Search
Exact matches only
Search in title
Search in content
Search in comments
Search in excerpt
Filter by Custom Post Type

Showing 1–10 of 14 results

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Các quy tắc của phương pháp xã hội học tác giả: 65.000VNĐ

    1. Thông tin về tác giả:

    Émile Durkheim (15/4/1858 – 15/11/1917) là nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp, người đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức năng và chủ nghĩa cơ cấu; người đã góp công lớn trong sự hình thành bộ môn xã hội học và nhân chủng học. Những công sức của ông trong việc thực hiện và biên tập tạp chí L’Année Sociologique đã giúp xây dựng xã hội học thành một môn khoa học xã hội được chấp nhận trong giới hàn lâm. Trong suốt cuộc đời mình, Durkheim đã thực hiện rất nhiều bài thuyết trình và cho xuất bản vô số sách xã hội về các chủ đề như giáo dục, tội phạm, tôn giáo, tự tử và nhiều mặt khác của xã hội. Ông được coi là một trong những nhà sáng lập môn xã hội học.

    2.Thông tin về cuốn sách: Các quy tắc của phương pháp xã hội học của Emile Durkheim:

    “Khi cuốn sách này xuất bản lần đầu, nó làm dấy lên những cuộc tranh cãi gay gắt. Những tư tưởng hiện hành, như thể bị ngỡ ngàng, đã chống lại ngay từ đầu với một sức mạnh đến mức, trong một thời gian, chúng tôi hầu như không thể nào lên tiếng trả lời  được.” (Lời tựa) Thế nào là một sự kiện xã hội? Các quy tắc về sự quan sát các sự kiện xã hội; Các quy tắc về sự phân biệt giữa cái bình thường và cái bệnh lí; Các quy tắc về sự cấu tạo các loại hình xã hội; Các quy tắc về việc giải thích các sự kiện xã hội; Các quy tắc về việc tổ chức luận cứ chứng minh và các đặc điểm tổng quát của phương pháp này: Sự độc lập mặt-đối-mặt của nó với bất cứ nền triết học nào, tính khách quan, đặc điểm xã hội học của nó… xã hội học như là môn khoa học tự trị. Cuộc chinh phục tính tự trị này là bước tiến bộ quan trọng nhất vẫn còn phải làm đối với môn xã hội học. Quyền uy lớn hơn của môn xã hội học có tính thực tiễn như thế

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Con người trong thế giới tinh thần tác giả: 110.000VNĐ

    1) Tác giả

    N. A. Berdyaev là triết gia Nga nổi tiếng của thế kỉ XX. Ông sinh năm 1874 trong một gia đình quý tộc Nga ở Kiev. Năm 1894 ông vào học trường sĩ quan quân đội, nhưng cảm thấy môi trường không phù hợp nên đã chuyển sang học trường Đại học Kiev. Ông tham gia hoạt động trong phong trào sinh viên, và năm 1898 bị bắt giam một tháng. Sau đó ông bị đi đày ở miền Bắc (1901-1902).

    Thời gian 1905-1906 ông cùng với S. N. Bulgakov thành lập tạp chí Những vấn đề của cuộc sống nhằm tập hợp những trào lưu mới trong lĩnh vực tư tưởng-văn hóa.

    Năm 1920 ông được khoa Lịch sử-Ngữ văn trường Đại học Moscow bầu làm giáo sư.

    Năm 1922 ông cùng nhiều trí thức và những người hoạt động văn hóa nổi tiếng khác bị trục xuất khỏi nước Nga Xô viết. Sau khi bị trục xuất ông đã ở Đức rồi định cư tại Pháp.

    Ông cùng với S. L. Frank và S. N. Bulgakov là những người đặt cơ sở cho sự phục hưng nền triết học tôn giáo Nga. Ông đã xây dựng triết học về bản diện cá nhân và tự do trong tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh. N. A. Berdyaev được xem là người có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Pháp. Ông mất ngay tại bàn làm việc ở ngoại ô Paris năm 1948.

    2) Tác phẩm

    … N. A. Berdyaev cho rằng không thể có bản diện cá nhân nếu không tồn tại cái đứng cao hơn nó, nếu không có cái thế giới trên núi để bản diện cá nhân leo lên. Hiện hữu của bản diện cá nhân đòi hỏi phải có hiện hữu của các giá trị siêu cá biệt. Từ nhân học ông đi đến hiện hữu của Thượng Đế. Nhưng N. A. Berdyaev bác bỏ quan niệm Thượng Đế như sức mạnh thống trị thế gian và sử dụng con người vốn là tạo vật của mình như phương tiện để tự vinh danh mình. Ông quan niệm một Thượng Đế-bản diện cá nhân mong mỏi con người-bản diện cá nhân đáp lại lời hiệu triệu của Người và Người có thể giao lưu tình yêu với nó. Thượng Đế bộc lộ bản thân mình trong thế giới tinh thần của con người, nhưng Thượng Đế không cai quản thế gian như một quân vương. N. A. Berdyaev tự xem mình là tín đồ Kitô giáo, nhưng không ràng buộc bản thân với bất cứ giáo hội nào. Ông cho rằng cuộc sống tôn giáo bao giờ cũng là cuộc sống cá nhân riêng tư trong thâm nhập vào chiều sâu của nó. Ông viết rằng từ thời thơ ấu ông đã xác định kiểu tôn giáo của ông là tinh thần nội tâm và tự do.

    Berdyaev cho rằng có ba trạng thái của con người, ba cấu trúc của ý thức có thể hàm nghĩa như “ông chủ”, “kẻ nô lệ” và “người tự do”. Ông chủ và kẻ nô lệ có tính tương liên, chúng không thể hiện hữu người này không có người kia. Còn người tự do hiện hữu tự thân nó, nó có trong bản thân mình phẩm chất riêng của nó mà không có tính tương liên với cái đối lập với nó. Ông chủ là ý thức hiện hữu cho bản thân mình, nhưng là ý thức hiện hữu cho bản thân mình thông qua kẻ khác, thông qua kẻ nô lệ. Nếu như ý thức của ông chủ là ý thức hiện hữu của kẻ khác cho bản thân mình, thì ý thức của nô lệ là ý thức hiện hữu của bản thân mình cho kẻ khác. Còn ý thức của người tự do là ý thức hiện hữu của mỗi người cho bản thân mình, nhưng tự do bước ra khỏi bản thân mình đi đến với kẻ khác và đi đến với tất cả mọi người. Giới hạn tột cùng của tình trạng nô lệ là tình trạng không có ý thức của nó. Thế giới của tình trạng nô lệ là thế giới tinh thần xa lạ với bản thân mình. Ngoại hiện hóa là nguồn gốc của tình trạng nô lệ. Tự do là nội hiện hóa.

    Berdyaev cho rằng thống trị là mặt trái của tình trạng nô lệ. Con người không được trở thành ông chủ, mà phải là người tự do. Plato đã nhận xét rằng chính bạo chúa cũng là kẻ nô lệ. Nô dịch kẻ khác cũng là nô dịch bản thân mình. Ý chí vươn tới hùng mạnh bao giờ cũng là ý chí nô lệ. César, vị anh hùng của chủ nghĩa đế quốc, là kẻ nô lệ, nô lệ của thế gian, nô lệ của ý chí vươn tới hùng mạnh, nô lệ của khối đông người mà thiếu khối đông người ấy thì ông ta không thể thực hiện được ý chí vươn tới hùng mạnh. Ông chủ chỉ biết đến chiều cao mà những kẻ nô lệ nâng ông ta lên, César chỉ biết đến chiều cao mà đám quần chúng nâng ông ta lên. Thế nhưng những kẻ nô lệ, đám quần chúng, cũng quăng xuống tất cả các ông chủ, tất cả các César. Berdyaev nhấn mạnh: “Tự do là tự do không phải chỉ thoát khỏi các ông chủ, mà còn thoát khỏi các nô lệ nữa. Ông chủ bị hạn định từ bên ngoài, ông chủ không phải là bản diện cá nhân, cũng như kẻ nô lệ không phải là bản diện cá nhân, chỉ có người tự do mới là bản diện cá nhân, dẫu cho toàn bộ thế gian đều muốn nô dịch anh ta”….

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Hoàn cảnh hậu hiện đại tác giả: 45.000VNĐ

    1. Giới thiệu sách “Hoàn cảnh hậu hiện đại”

    Với “Hoàn cảnh hậu hiện đại”, Layotard chủ trương sự cần thiết của một quan niệm công bằng về sự truyền thông, trong đó không chỉ cho phép tồn tại mà còn bảo vệ sự đa dạng (những dị biệt và bất-đồng thuận), có thể liên tục phá vỡ sự đồng thuận tạm thời.

    “Quyển sách mang tính chất của một cương lĩnh. Nó mô tả sự biến chuyển từ Hiện đại sang Hậu-hiện đại: về phương diện xã hội học, những biến đổi nhanh chóng của xã hội tất yếu dẫn đến sự khủng hoảng về “tâm trạng” và hình thành nên một tâm thức mới: tâm thức hậu hiện đại; về phương diện triết học, các hình thức “hợp thức hóa” cho khoa học cũng lâm vào tình trạng bế tắc, đặt ta vào một hoàn cảnh mới: hoàn cảnh hậu hiện đại, cần được giải quyết về mặt khoa học luận và triết học”.

    “Đó là một nỗ lực mới nhằm thức tỉnh trước những nguy cơ và cám dỗ để tiếp tục suy tưởng và kiến tạo những hình thức mới, phù hợp hơn để “cứu vãn” và bảo vệ những giá trị đích thực của Hiện đại: sự tự do và sự khai phóng của cá nhân.”

     

    2. Mục lục

    Lyotard với tâm thức và hoàn cảnh hậu hiện đại

    Dẫn nhập

    1. Trường nghiên cứu: Tri thức trong các xã hội tin học hóa

    2. Vấn đề: Sự hợp thức hóa

    3. Phương pháp: Các trò chơi ngôn ngữ

    4. Bản tính của mối liên kết xã hội: Giải pháp hiện đại

    5. Bản tính của mối liên kết xã hội: Viễn tượng hậu hiện đại

    6. Dụng học của tri thức tự sự

    7. Dụng học của tri thức khoa học

    8. Chức năng tự sự và sự hợp thức hóa tri thức

    9. Các đại tự sự để hợp thức hóa tri thức

    10. Sự giải-hợp thức hóa

    11. Sự nghiên cứu và sự hợp thức của nó thông qua tính hiệu quả thực hiện

    12. Giáo dục và sự hợp thức của nó thông qua tính hiệu quả thực hiện

    13. Khoa học hậu hiện đại như sự tìm kiếm những cái bất ổn định

    14. Hợp thức hóa thông qua sự nghịch biện

    Danh mục tác phẩm của J. F. Lyotard theo thứ tự thời gian

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Lời mời đến với xã hội học – Một góc nhìn nhân văn tác giả: 100.000VNĐ

    Khác với nhân học, nhà xã hội học không đi tìm hiểu những xã hội khác lạ, mà thường say mê với cái quen thuộc. Đôi khi các nhà xã hội học khảo sát những thế giới mà trước đây họ chưa biết, như các khu ghetto nội đô, các giáo phái, hay thế giới riêng tư đằng sau tiền cảnh của các bác sĩ phẫu thuật, tướng lĩnh quân sự v.v. Song các nhà xã hội học cũng thường khảo sát những lĩnh vực hành vi vốn quen thuộc đối với họ và với hầu hết những người trong xã hội của họ, thông qua hoặc kinh nghiệm trực tiếp hoặc qua báo chí. Sự độc đáo là nhãn quan xã hội học giúp ta nhìn cái đã quen thuộc – thậm chí nhàm chán – dưới một ánh sáng mới mẻ và thanh tân. Đấy chính là niềm vui và sự hào hứng mà xã hội học mang lại. “Đó không phải là sự hào hứng khi đến một nơi hoàn toàn mới lạ, mà đúng hơn là sự hào hứng trong việc tìm ra rằng cái quen thuộc đã mang một ý nghĩa khác hẳn. Sức quyến rũ mê hồn của xã hội học là ở thực tế này: cách nhìn của nó khiến cho ta thấy được chính cái thế giới mà suốt đời chúng ta đã và đang sống dưới một ánh sáng mới”. Các nhà xã hội học nỗ lực tiếp cận cái thế giới mà chúng ta coi là đương nhiên, và xem nó như thể đó là một lĩnh vực mới, chưa hề được khám phá. Họ nhìn sâu xa hơn những động cơ và lí giải chính thức mà người ta đưa ra về niềm tin và hành vi của mình.

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Luận về biếu tặng – Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ tác giả: 120.000VNĐ

    1. Tác giả:

    Marcel Mauss (1872-1950) là nhà xã hội học người Pháp, người học trò, người cháu của Émile Durkheim. Ông thường được coi là “cha đẻ của ngành nhân học Pháp” với bài viết nổi tiếng đăng trên Année sociologique  (Năm xã hội học): Luận về biếu tặng.Lĩnh vực hoạt động và nghiên cứu của ông đi giữa ranh giới của xã hội học và nhân học. Những phân tích của Marcel Mauss về ma thuật, sự hi sinh và biếu tặng có nhiều ảnh hưởng đối với nhiều nhà xã hội học, nhà nhân học sau này, đặc biệt là Claude Lévi-Strauss.

    2. Tác phẩm:

    Luận về biếu tặng (1925) là tác phẩm thuộc hàng kinh điển của Marcel Mauss. Trong cuốn sách nhỏ này, ông đã lập luận rằng những món quà không bao giờ “miễn phí”. Lịch sử của con người là lịch sử của những lần trao đổi quà tặng qua lại, và điều này vượt qua mọi ranh giới giữa vật chất và tinh thần. Món quà, ngoài giá trị của chính nó, còn bao hàm nhiều giá trị khác như về danh dự, địa vị, thậm chí còn giống như một sự thách thức đối với người nhận quà. Chính mối quan hệ giữa món quà và người tặng đã tạo ra nghĩa vụ “đáp trả” của người nhận.

    3. Dịch giả:

    Nguyễn Tùng, sinh năm 1944, được đào tạo về dân tộc học và triết học tại Đại học Sorbonne (Paris). Ông từng dạy về ngôn ngữ và văn minh Việt Nam tại Đại học Paris VII, và từng làm việc gần 40 năm tại Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia. Ông là tác giả của nhiều bài nghiên cứu bằng tiếng Pháp và tiếng Việt về dân tộc học Việt Nam, là chủ biên của cuốn Mông Phụ, một làng ở đồng bằng sông Hồng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002. Ông cũng là người tham gia dịch cuốn Nền đạo đức tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, Max Weber, NXB Tri thức, 2008.

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Minh triết thiêng liêng (bộ 3 cuốn) tác giả: Hamvas Bela 370.000VNĐ

    Tập 1 Minh triết thiêng liêng của Hamvas Béla đưa người đọc bước vào hành trình tìm lại truyền thống minh triết xa xưa, để từ đó gặp gỡ con người cổ đại và tiếp cận vốn văn hóa cổ và văn hóa thời hiện đại. Trong tập 2, cuốn sách bàn đến sự nhập định, sự tương đồng trong ngôn ngữ hình, chiêm tinh học,…  và mối quan hệ giữa nhà vua với dân chúng. Cuối cùng, cuốn sách tiến đến luận bàn về Kito giáo và truyền thống 7, cuộc chiến chống Kito và logic hợp nhất trong một số phần.

    Nhìn chung, Hamvas Béla đã trình bày trước mắt người đọc cả một bề dày lịch sử, văn hóa, tôn giáo đồ sộ trong suốt tiến trình phát triển hàng ngàn năm của văn minh phương Tây. Minh triết thiêng liêng sẽ là một cuốn sách tuyệt vời, đầy ắp ý tưởng cho những ai yêu thích tìm hiểu ý nghĩa của những con số, hoặc có ham muốn “khảo cổ” lại lớp trầm tích của văn hóa cổ xưa.

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Những huyền thoại tác giả: 100.000VNĐ

    1. Tác giả

    Roland Barthes, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1915 tại Cherbourg (Manche) và mất ngày 26 tháng Ba năm 1980 tại Paris, là một nhà văn và nhà kí hiệu học người Pháp. Ông là một trong những người đặt nền móng cho chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học Pháp.

    Bạn đọc Việt Nam đã từng biết đến Roland Barthes với cuốn Độ không của lối viết do Nguyên Ngọc dịch. Cuốn sách là một suy tư về ngôn ngữ văn học và về điều kiện lịch sử cũng như muốn chứng minh: “một khó khăn nhất định trong văn học vì buộc phải tự biểu đạt bản thân mình qua một lối viết không thể tự do”. Luận văn này được coi là tuyên ngôn của “Phê bình mới”.

    Tuy nhiên, phần lớn những công trình quan trọng khác của Roland Barthes như Cơ sở ký hiệu học, Đế quốc của những ký hiệu,S/Z… đều chưa được dịch ra tiếng Việt. Bản dịch Những huyền thoại là một nỗ lực của dịch giả Phùng Văn Tửu và NXB Tri thức nhắm bù đắp phần nào lỗ hổng học thuật đó.

    2. Tác phẩm “Những huyền thoại”

    Cuốn sách gồm hai phần. Phần đầu lấy tiêu đề trùng với nhan đề của sách là “Những huyền thoại” tập hợp 53 bài ông viết từ 1954 đến 1956 về các vấn đề thời sự hàng ngày hết sức đa dạng ông quan sát và nghiền ngẫm trong xã hội Pháp; chất liệu của những bài viết ấy có thể là một bộ phim, một bài báo, một tấm ảnh ở trang bìa tờ tạp chí, một cuộc triển lãm… Phần thứ hai mang tiêu đề “Huyền thoại, ngày nay…” (Le mythe, aujourd’hui…) có thể xem như lời hậu bạt dài khép lại cuốn sách.

    Trong Lời nói đầu công trình nghiên cứu, tác giả viết : “Ngay từ đầu […] tôi cũng đã tin vào một điều mà về sau tôi tìm cách rút ra tất cả những hệ quả: huyền thoại là một ngôn ngữ (langage). Vì vậy, tuy đề cập đến những sự việc xem ra hết sức xa lạ với mọi loại văn ch­ương (một trận đấu catch, một món ăn đư­ợc trang trí, một cuộc triển lãm chất dẻo), tôi không nghĩ là đi ra ngoài lĩnh vực ký hiệu học đại cư­ơng của thế giới tư sản chúng ta, mà tôi đã tiếp cận triền dốc văn chương trong các tiểu luận trư­ớc…” Đến Lời nói đầu ở lần tái bản năm 1970, tác giả lại viết : “Bạn đọc sẽ thấy ở đây hai quyết tâm: một mặt là phê phán ngôn ngữ của cái gọi là văn hóa đại chúng về phư­ơng diện tư tưởng; mặt khác là bước đầu tháo dỡ ngôn ngữ ấy về phương diện ký hiệu học: tôi vừa đọc Saussure và tôi sẽ rút ở đấy ra niềm tin chắc là bằng cách xem xét các “thể hiện tập thể” như­ những hệ thống ký hiệu, ngư­ời ta hy vọng có thể thôi không còn phải tố cáo nhẹ nhàng chung chung mà vạch ra một cách chi tiết sự lừa phỉnh muốn biến văn hóa tiểu tư­ sản thành bản chất phổ quát”.

    Mở đầu phần thứ hai cuốn Những huyền thoại, Barthes viết : “Huyền thoại là gì ? Tôi sẽ ngay lập tức đưa ra câu trả lời đầu tiên rất đơn giản, hoàn toàn phù hợp với từ nguyên: huyền thoại là một ngôn từ” . Ngay ở cuối trang, ông ghi chú là người ta có thể sẽ đưa ra cả ngàn nghĩa khác của từ huyền thoại để bác bẻ ông, nhưng ông đã tìm cách xác định các sự việc, chứ không phải các từ ngữ. Huyền thoại là một ngôn từ, nhưng theo ông không phải ngôn từ nào cũng là huyền thoại, “mà cần phải nêu lên mạnh mẽ ngay từ đầu, huyền thoại là một hệ thống thông báo, đó là một thông điệp” do đó huyền thoại không thể là một sự vật, một khái niệm hay một ý niệm, mà đó là một phương thức thông báo, đó là một hình thức ; huyền thoại không được xác định bằng nội dung của thông điệp mà bằng cách thức nó phát ra thông điệp.

    Vẫn theo Barthes, “mọi ký hiệu học đều có tiền đề là mối tương quan giữa hai vế, cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Mối tương quan ấy diễn ra trên những đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau, và vì thế nó không phải là sự ngang bằng mà là sự tương đương”  ; do đó, nếu như trong ngôn ngữ thông thường cái biểu đạt biểu thị cái được biểu đạt, thì trong mọi hệ thống ký hiệu học, không chỉ có hai mà là ba vế khác nhau ; vế thứ nhất không dẫn thẳng đến vế thứ hai mà thông qua mối tương quan giữa hai vế ấy ; “vậy là có cái biểu đạt, cái được biểu đạt và ký hiệu là tổng liên kết của hai vế đầu”. Ông đưa ra một số thí dụ, chẳng hạn bó hoa hồng: ông để cho bó hoa hồng biểu đạt tình yêu say đắm của ông; ở đây không phải chỉ có cái biểu đạt (những bông hồng) và cái được biểu đạt (tình yêu say đắm) ; mà chỉ có những bông hồng đã “thấm đượm tình yêu say đắm” ; nhưng trên bình diện phân tích, rõ ràng có ba vế, vì những bông hồng thấm đượm tình yêu hoàn toàn có thể phân tích thành những bông hồng và tình yêu say đắm, hai vế đó tồn tại độc lập trước khi kết hợp với nhau để tạo thành đối tượng thứ ba là ký hiệu. “Đúng thế, ông viết, trên bình diện cuộc sống trải nghiệm, tôi không thể tách những bông hồng ra khỏi thông điệp chúng mang theo như thế nào, thì trên bình diện phân tích cũng thế, tôi không thể lẫn lộn những bông hồng với tư cách cái biểu đạt và những bông hồng với tư cách ký hiệu: cái biểu đạt thì trống rỗng, ký hiệu thì đầy ắp, nó là nghĩa”.

    Sự phê phán xã hội bộc lộ rõ nét trong Những huyền thoại. Barthes phê phán cái “xã hội chúng ta”, “môi trường ưu đãi của những biểu đạt huyền thoại”, nơi chốn của “một chế độ tư hữu nhất định”, “một trật tự nhất định”. Với Roland Barthes, huyền thoại làm con người chúng ta mù quáng không thể nhìn nhận rõ điều kiện lịch sử của chính mình, còn nghiên cứu về huyền thoại thì làm người ta nhìn rõ mọi thứ…

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Phương pháp 5: Nhân loại về nhân loại: BẢN SẮC NHÂN LOẠI tác giả: 125.000VNĐ

    1) Tác giả

    EDGAR MORIN: Sinh tại Paris năm 1921, Edgar Morin là một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của nước Pháp đương đại. Ông là Giám đốc Nghiên cứu danh dự tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học, Chủ tịch Hiệp hội Tư duy phức hợp. Vừa là nhà xã hội học, nhân học và triết học, ông đã xuất bản khoảng năm mươi cuốn sách có ảnh hưởng lớn đến tư duy của nhân loại trong thời đại chúng ta. Các tác phẩm của ông được dịch ra ít nhất 28 thứ tiếng và trên 42 quốc gia.

    2) “Phương pháp 5: Nhân loại về nhân loại: BẢN SẮC NHÂN LOẠI”

    Cuốn Phương pháp 5 có vị trí đặc biệt trong bộ Phương pháp gồm 6 tập, cũng như trong các trước tác của Edgar Morin. Đây là “Công trình tổng hợp cả một đời người, tất cả mọi vấn đề trong các công trình trước đây của tác giả đều được tập trung trong một khuôn khổ và hòa âm mới mẻ”.

    Điều đặc sắc nhất của công trình này là ở chỗ nó tập trung nghiên cứu con người như một thực thể siêu phức hợp: “Trong mọi loại sinh vật trên Trái Đất, chúng ta là loại duy nhất có bộ máy não – thần kinh cực siêu phức hợp, duy nhất có ngôn ngữ cấu âm kép để giao tiếp giữa cá nhân này với cá nhân khác, duy nhất có ý thức…”

    Nghiên cứu con người như vậy chính là “Nhân học phức hợp” (Anthropologie complexe).

    Trước khi đi sâu vào nội dung tác phẩm, cần làm rõ khái niệm “Nhân học” (Anthropologie/Anthropology).

    Nhân học đang còn là ngành học mới ở nước ta. Tên gọi, cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu của nó đang có nhiều cách hiểu khác nhau, nhất là mối quan hệ giữa Nhân học với Nhân chủng học, Nhân học với Dân tộc học, Nhân học với Nghiên cứu Con người.

    Nhân học và Nhân chủng học. Năm 2007, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho xuất bản cuốn sách của E.Adamson Hoebel (1906-1993) nhan đề Nhân chủng học khoa học về con người do Lê Sơn, Lê Trọng Nghĩa và Phạm Khương biên dịch. Sách nguyên là Anthropology: The Study of Man (xuất bản lần thứ III năm 1966, Nxb McGraw-Hill, New York), và theo chúng tôi chỉ nên dịch là “Nhân học: Nghiên cứu con người”. Đây cũng là định nghĩa ngắn gọn về Nhân học của E. Adamson Hoebel, một nhà nhân học nổi tiếng, Giáo sư danh dự Đại học Minnesota (Mỹ), Chủ tịch Hội Dân tộc học Mỹ (American Ethnological Society, 1946-1947) và Chủ tịch Hiệp hội Nhân học Mỹ (American Anthropological Association, 1956-1957). Đây là một công trình khoa học lớn, cho ta những tri thức cơ bản, có hệ thống về Nhân học (sách xuất bản lần thứ IV năm 1996).

    Chúng ta đều biết, các nhà nhân học cuối thế kỉ XIX đã nỗ lực phân loại các cư dân trên thế giới thành những chủng tộc khác nhau. Việc làm này đã bị nhiều người lợi dụng để biện hộ cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Đến đầu thế kỉ XX phần lớn các nhà nhân học, nhất là các nhà nhân học Mỹ, tiêu biểu là Franz Boas, được coi là người khai sinh ra ngành nhân học Mỹ, đã bác bỏ cách phân loại dựa trên chủng tộc.

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Sự kiến tạo xã hội về thực tại tác giả: 125.000VNĐ

    Tập sách bao gồm ba phần, trong đó luận điểm then chốt của hai tác giả nằm trong phần 2 và phần 3. Ở phần nhập đề (Vấn đề của môn xã hội học nhận thức), hai tác giả đã điểm qua lịch sử hình thành môn xã hội học nhận thức để định vị cách hiểu và lối tiếp cận của mình, đặc biệt là để định nghĩa lại đối tượng của bộ môn này. Phần 1 (Những nền tảng của sự nhận thức trong đời sống thường nhật) đề cập tới những đặc trưng của đời sống thường nhật, cách lãnh hội của cá nhân đối với đời sống thường nhật, và kiến thức trong đời sống thường nhật, trong đó phương tiện quan trọng nhất để có được thứ “kiến thức đời thường” này chính là ngôn ngữ. Phần 2 (Xã hội xét như là thực tại khách quan) đề cập tới các nội dung của quá trình định chế hóa và của quá trình chính đáng hóa đối với các trật tự định chế; đây là phần mà hai tác giả trình bày “quan niệm căn bản” của mình “về các vấn đề của bộ môn xã hội học nhận thức”. Phần 3 (Xã hội xét như là thực tại chủ quan) bàn đến quá trình xã hội hóa, trong đó đặc biệt đi sâu vào những nội dung như tiến trình nội tâm hóa và tiến trình hình thành căn cước[7] của cá nhân; đây là phần mà hai tác giả “ứng dụng” quan niệm xã hội học nhận thức của mình “vào bình diện ý thức chủ quan, và từ đó xây dựng một chiếc cầu lý thuyết nối đến các vấn đề của ngành tâm lý học xã hội”. Phần kết luận (Xã hội học nhận thức và lý thuyết xã hội học) bàn về tầm quan trọng của môn xã hội học nhận thức đối với lý thuyết xã hội học xét một cách tổng quát.

    Có một điểm hết sức mấu chốt mà độc giả cần lưu ý để tránh ngộ nhận về mối quan hệ lô-gíc giữa phần 2 với phần 3: “xã hội xét như là thực tại khách quan” (phần 2), và “xã hội xét như là thực tại chủ quan” (phần 3). Đây không phải là hai thực tại khác nhau, mà là hai mặt của cùng một thực tại, xét dưới hai góc nhìn khác nhau. Nhằm tìm hiểu đặc trưng của mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, hai tác giả đã đi theo một lối tiếp cận độc đáo xuất phát từ cả quan điểm của Durkheim lẫn quan điểm của Weber để có thể giải thích được “tính chất lưỡng diện của xã hội xét về mặt kiện tính khách quan và về mặt ý nghĩa chủ quan” (tr. 33)[8]. Trong lúc Durkheim chú trọng “mặt kiện tính khách quan” của xã hội (coi “các sự kiện xã hội như những đồ vật”), thì Weber nhấn mạnh đến “mặt ý nghĩa chủ quan” của hành động con người trong xã hội. Theo Berger và Luckmann, hai quan điểm này không hề đối lập nhau, mà chỉ là hai góc nhìn chú ý đến hai mặt khác nhau của thực tại xã hội. Từ đó, hai tác giả đặt ra câu hỏi nghiên cứu sau đây: “Làm thế nào mà những ý nghĩa chủ quan […] có thể trở thành những kiện tính khách quan?”. Hay nói khác đi, “làm thế nào hoạt động của con người lại có thể sản xuất ra được một thế giới đồ vật?” (tr. 33, chỗ nhấn mạnh là do hai tác giả). Theo hai tác giả, đây không chỉ là câu hỏi của môn xã hội học nhận thức, mà cũng chính là “câu hỏi trung tâm của lý thuyết xã hội học” mà công trình này phải trả lời.

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Sự nghèo nàn của Thuyết Sử luận tác giả: 70.000VNĐ

    1. Đôi dòng về tác giả

    Karl R. Popper (1902-1994) là một nhà triết học, xã hội học, logic học người Áo. Ông được coi là một trong những triết gia vĩ đại nhất thế kỉ XX. Ban đầu, Karl R. Popper chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng logic, song ông cũng là một trong những người đầu tiên phê phán trường phái đó, và xây dựng trường phái triết học của riêng mình – chủ nghĩa duy lí phê phán.

    Các tác phẩm chính của ông, gồm có: Xã hội mở và kẻ thù của nó (1945), Sự nghèo nàn của thuyết sử luận (1957), Logic của sự khám phá khoa học (1959), Tri thức khách quan – một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa (1972)…

    2. Về tác phẩm

    Với cuốn Sự nghèo nàn của Thuyết Sử luận, tác giả muốn chứng minh rằng thuyết sử luận là một phương pháp nghèo nàn – một phương pháp không đơm hoa kết trái. Karl R. Popper đã cố chỉ ra ý nghĩa của thuyết sử luận với tính chất một cấu trúc trí tuệ đầy quyến rũ. Ông đã phân tích cái logic của thứ chủ thuyết ấy – một thứ chủ thuyết nhiều khi rất tinh vi, rất hấp dẫn và rất xảo trá – và cũng đã cố lập luận rằng nó đang mắc phải một thứ bệnh cố hữu, vô phương cứu chữa.

    3. Bình luận về tác phẩm “Sự nghèo nàn của Thuyết Sử luận”

    “Ta có thể diễn giải “lịch sử” như lịch sử đấu tranh giai cấp, hoặc như lịch sử đấu tranh chủng tộc để giành quyền là chủng tộc thượng đẳng, hoặc như lịch sử tư tưởng tôn giáo hoặc lịch sử đấu tranh giữa xã hội “mở” và xã hội “khép kín”, hoặc như lịch sử của tiến bộ khoa học và công nghiệp. Tất cả đều là những quan điểm mang tính quan thiết không ít thì nhiều và không có gì đáng chê trách. Nhưng các nhà sử luận lại không trình bày chúng đúng như thế; họ không nhìn ra sự cần thiết của tính đa dạng trong những cách diễn giải về cơ bản tương đương nhau (cho dù một số trong những cách diễn giải ấy có thể nổi bật lên nhờ vào tính phong phú của chúng – một điều ít nhiều có ý nghĩa). Thay vì thế, họ trình bày chúng như những học thuyết hoặc lý thuyết và khăng khăng rằng “toàn bộ lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp”, v.v. Và nếu thấy rằng quan điểm của mình là phong phú và có nhiều thực kiện có thể được sắp xếp theo thứ tự và diễn giải dưới ánh sáng quan điểm của mình, họ sẽ nhầm lẫn quan điểm với một sự chứng thực, hoặc thậm chí một phép chứng minh, cho học thuyết của họ.”

There are no products