Search
Exact matches only
Search in title
Search in content
Search in comments
Search in excerpt
Filter by Custom Post Type
Tủ sách Nền Tảng (37)

Showing 1–10 of 37 results

  • Bộ công cụ mới tác giả: Francis Bacon 135.000VNĐ

    I. THÔNG SỐ SÁCH

    Tên sách: Bộ công cụ mới ­­

    Tác giả: Francis Bacon

    Dịch giả: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Trọng Chuẩn

    Số trang: 492 trang

    Khổ sách: 12 x 20 cm

    Loại sách: bìa mềm

    Giá bìa: 135.000 VNĐ

    Nhà xuất bản Tri thức: 2016

    II. GIỚI THIỆU SÁCH

    1.Tác giả

    Francis Bacon (12/1/1561 – 9/4/1626): nhà triết học, chính khách người Anh. Ông được biết đến là một nhân vật quan trọng của Cuộc cách mạng khoa học và được xem là cha đẻ của chủ nghĩa duy nghiệm và phương pháp quy nạp khoa học.

    2. Lời nói đầu

    Những người dám nói về tự nhiên như một đối tượng đã được nghiên cứu – họ làm điều đó là do quá tự tin hoặc do háo danh và thói quen thuyết giáo – đã gây ra một tổn thất to lớn cho triết học và cho các khoa học. Bởi vì, họ mạnh mẽ tới mức nào trong việc buộc người khác phải tin vào mình thì họ cũng thành công tới mức đó trong việc chặn đứng và bóp chết công việc nghiên cứu. Họ không hẳn đã mang lại lợi ích nhờ các năng lực của mình, mà chủ yếu gây ra tổn thất do đã lãng phí và giết chết năng lực của những người khác. Còn những người đi theo con đường đối lập và nhất quyết khẳng định rằng chúng ta không thể nhận thức được một cái gì cả đã đi tới sự tin tưởng ấy do họ căm ghét các nhà ngụy biện thời cổ đại, hoặc là do tinh thần yếu ớt, hay thậm chí là do có một kiểu thông thái nào đó, đã viện dẫn những lí do không nên coi thường. Tuy nhiên, trong ý kiến của mình, họ không xuất phát từ các cơ sở chân thực, và khi bị khát vọng và lòng nhiệt tình lôi cuốn về phía trước thì họ lại đi quá xa. Những người Hi Lạp cổ nhất (mà tác phẩm của họ đã bị thất lạc) giữ một lập trường hợp lí hơn giữa những phán đoán dứt khoát đầy tự tin và thái độ thất vọng. Mặc dù họ thường kêu ca và phàn nàn về khó khăn trong việc nghiên cứu và về sự bí ẩn của các sự vật, song cắn răng chịu đựng, họ không ngừng vươn tới mục đích và thử nghiệm giới tự nhiên. Như đã rõ, họ cho rằng vấn đề này (nghĩa là việc có thể nhận thức được một cái gì đó hay không) được giải quyết không phải bằng tranh luận mà bằng kinh nghiệm. Nhưng, khi chỉ biết đến sức mạnh của lí tính, cả họ cũng không dựa vào các quy tắc, mà vẫn thường trông cậy vào tư duy sắc sảo, vào tính năng động và tính tích cực của trí tuệ.

    …………

    3. Mục lục

    Lời nhà xuất bản

    Lời nói đầu

    Cách ngôn về việc giải thích giới tự nhiên và về vương quốc của con người

    Cuốn sách cách ngôn thứ hai về việc lí giải giới tự nhiên hay về vương quốc của con người

    Bảng chỉ mục tên riêng

    Bảng chỉ mục vấn đề

    4) Điểm nhấn

    “Lí tính của con người sử dụng mọi thứ để bảo vệ và nhất trí với điều mà một khi nó đã thừa nhận, hoặc là vì đó là đối tượng của niềm tin chung, hoặc là vì nó ưa thích điều đó. Sức mạnh và số lượng các sự kiện lại chứng tỏ cho điều ngược lại, dù đó có là gì đi chăng nữa thì lí tính hoặc không để ý tới chúng, hoặc coi thường chúng, hoặc loại bỏ và bác bỏ chúng nhờ những sự phân định với lời cảnh báo thái quá và thô thiển để cho tính đáng tin cậy của các kết luận trước đây không bị loại bỏ. Và, do vậy, người trả lời đúng là người khi mà ta chỉ cho người đó thấy hình ảnh trong đền của những người được cứu thoát khỏi nạn đắm tàu nhờ nói ra lời thề nguyền và được đáp lại, lại hỏi tiếp: “Vậy đâu là hình ảnh của những người đã chết sau khi nói ra lời thề nguyền?”[1]. Đó dường như là cơ sở của mọi sự mê tín – trong thiên văn học, trong giấc mơ, trong niềm tin, trong tiên tri, v.v. Huyễn hoặc mình bằng điều hư ảo như vậy, con người chỉ nhận thấy sự kiện đã diễn ra mà không để ý tới cái đã lừa mình, cho dù nó thường xảy ra hơn nhiều. Sai lầm này còn thâm nhập sâu sắc hơn nữa vào triết học và vào các khoa học. Trong chúng, điều một lần nữa đã được thừa nhận, sẽ tiêm nhiễm và khống chế những điều khác (mặc dù những điều khác là tốt hơn và vững chắc hơn nhiều). Ngoài ra, thậm chí cả sự thiên vị và sự hư ảo mà chúng tôi chỉ ra đó cũng không có, thì lí tính con người vẫn quen mắc sai lầm là nó ngả theo các luận cứ khẳng định hơn là các luận cứ phủ định, trong khi đó thì đáng ra nó phải có thái độ như nhau đối với chúng; hơn nữa, thậm chí luận cứ phủ định có sức mạnh lớn hơn trong việc xây dựng mọi tiên đề chân thực.”

    (Trích Cách ngôn về việc giải thích giới tự nhiên và về vương quốc của con người)

     

     

     


    [1] Câu chuyện về người vô thần, xem trong Cicero, On the Nature of the Gids, III, 37 và Diogenes Laertius, Lives of Eminent Philosophers, VI, 59.

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Các quy tắc của phương pháp xã hội học tác giả: 65.000VNĐ

    1. Thông tin về tác giả:

    Émile Durkheim (15/4/1858 – 15/11/1917) là nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp, người đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức năng và chủ nghĩa cơ cấu; người đã góp công lớn trong sự hình thành bộ môn xã hội học và nhân chủng học. Những công sức của ông trong việc thực hiện và biên tập tạp chí L’Année Sociologique đã giúp xây dựng xã hội học thành một môn khoa học xã hội được chấp nhận trong giới hàn lâm. Trong suốt cuộc đời mình, Durkheim đã thực hiện rất nhiều bài thuyết trình và cho xuất bản vô số sách xã hội về các chủ đề như giáo dục, tội phạm, tôn giáo, tự tử và nhiều mặt khác của xã hội. Ông được coi là một trong những nhà sáng lập môn xã hội học.

    2.Thông tin về cuốn sách: Các quy tắc của phương pháp xã hội học của Emile Durkheim:

    “Khi cuốn sách này xuất bản lần đầu, nó làm dấy lên những cuộc tranh cãi gay gắt. Những tư tưởng hiện hành, như thể bị ngỡ ngàng, đã chống lại ngay từ đầu với một sức mạnh đến mức, trong một thời gian, chúng tôi hầu như không thể nào lên tiếng trả lời  được.” (Lời tựa) Thế nào là một sự kiện xã hội? Các quy tắc về sự quan sát các sự kiện xã hội; Các quy tắc về sự phân biệt giữa cái bình thường và cái bệnh lí; Các quy tắc về sự cấu tạo các loại hình xã hội; Các quy tắc về việc giải thích các sự kiện xã hội; Các quy tắc về việc tổ chức luận cứ chứng minh và các đặc điểm tổng quát của phương pháp này: Sự độc lập mặt-đối-mặt của nó với bất cứ nền triết học nào, tính khách quan, đặc điểm xã hội học của nó… xã hội học như là môn khoa học tự trị. Cuộc chinh phục tính tự trị này là bước tiến bộ quan trọng nhất vẫn còn phải làm đối với môn xã hội học. Quyền uy lớn hơn của môn xã hội học có tính thực tiễn như thế

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Candide Chàng ngây thơ tác giả: 75.000VNĐ

    1. Về tác giả

    Voltaire (tên thật là François-Marie Arouet) (1694-1778) là văn hào Pháp, xuất thân trong một gia đình tư sản Paris, Ông từng được xem như một “con người toàn năng” và một chiến sĩ đấu tranh cho sự khoan dung. Ông đã sống một cuộc sống sôi nổi, từng du lịch ngoại quốc khá nhiều, nhất là ở nước Anh, một nước mà ông tin tưởng là có chế độ xã hội hoàn thiện hơn nước Pháp; ông học văn chương Anh, viết sách bằng Anh ngữ để phát biểu tư tưởng.Vì thái độ không xu thời, ông đã bị các nhà quyền quý thù oán, muốn làm hại; đã có hồi ông phải trốn tránh ở nhà một phụ nữ có thế lực là bà Du Châtelet ở Cirey.

    Là một nhà văn, Voltaire viết đủ các thể loại, đủ các đề tài với một trí thông minh tuyệt vời. Hâm mộ tính hoàn thiện cổ điển một cách sáng suốt, ông có tham vọng nổi danh bằng trước tác sân khấu, luôn ghép mình vào những quy định và Boileau đã đề ra, nhưng đề cập đến những chủ đề hiện đại và xảy ra trong nước, và tìm cái đẹp trong dàn cảnh sân khấu. Tác phẩm lịch sử của ông được xây dựng trên cơ sở sưu tầm tư liệu một cách nghiêm túc, ca ngợi những con người vĩ đại, làm nên bước tiến của văn minh, và có bước soi sáng mới đối với lịch sử, chẳng hạn sử thi Henriade, vở kịch Cái chết của César. Nhưng sinh động nhất trong các sáng tác của Voltaire vẫn là những câu chuyện triết học. Bằng lối văn xuôi hoạt bát và tinh anh, đượm tính hài hước, ông minh họa những chủ đề mà các triết gia rất tha thiết, sao cho “chuyện kể về những nỗi bất công không ngừng vang vọng đến tất cả mọi người”. Và Candide là một trong số đó.

    2. Về “Candide – Chàng ngây thơ”

    Từ khi ra đời, Candide hay chủ nghĩa lạc quan (Candide ou l’optimisme) đã gắn liền với tên tuổi của Voltaire và trở thành một trong những tác phẩm kinh điển cả về văn chương lẫn triết lý. Candide luôn có mặt trong tất cả các tuyển tập tác phẩm văn xuôi của Voltaire. Bên cạnh Zadig, Memnon, Micromégas, đó là tác phẩm lừng danh nhất của ông, nhiều khi được đánh giá là tác phẩm văn chương giàu tính triết học nhất mà Voltaire từng viết. Tuyển tập tác phẩm gần đây nhất của tủ sách La Pléiade, được tập hợp dưới cái tên “Romans et contes” (tiểu thuyết và truyện) có 26 tác phẩm, thì Candide được xếp thứ 11, nghĩa là ở vào khoảng giữa, và cũng thường được coi là được viết vào giai đoạn Voltaire đạt đến đỉnh cao của tài năng.

    Tác phẩm được viết để trả lời cho triết thuyết của Rousseau về Thượng đế và nhất là để phản đối chủ trương của triết gia Leibniz, theo đó mọi sự trên đời đều sẽ càng ngày càng hoàn thiện hơn, nên con người phải lạc quan.

    Ông đưa ra một nhân vật chính, có tính tình chất phác, quá lạc quan, thật thà đến mức ngây thơ nên người ta phải gọi là “chàng Ngây Thơ”. Chàng trải qua bao nhiêu tai biến, hoạn nạn mà vẫn cứ khờ khạo, tin vào lời của thầy là triết gia Pangloss dạy rằng cứ lạc quan, thế gian sẽ hoàn thiện. Chàng đã gặp bao nhiêu ngang trái, bao nhiêu bất công, nghịch cảnh, bị hoạn nạn, gian nan, chìm nổi song vẫn không tìm được hạnh phúc mà chàng đặt vào một người đẹp, người yêu tha thiết của chàng.

    Lưu lạc vào một thế giới hoàng kim (xứ Eldorado, một xứ tưởng tượng) chàng lấy về được ngọc vàng châu báu kim cương, đủ thành một tài sản đưa chàng lên địa vị người giàu mạnh nhất thế giới; vậy mà, đến khi tìm được người đẹp, thì nàng hết nhan sắc, trở thành nô lệ, từng bị bán đi bán lại nhiều lần; cuộc sống sóng gió của nàng đã làm cho nàng hết đẹp, lại còn sinh tính nóng nảy, cục cằn. Lúc này đã hết tiền, chàng chỉ có thể mua một miếng vườn để cùng vợ và các bạn cũ sống đời an phận thủ thường.

    Tuy nhiên, nếu cuộc sống là tồi tệ, thì một ngày nào đó, mọi việc rồi sẽ tốt, đó là hy vọng của chúng ta.” Chống đối một lý thuyết trừu tượng hão huyền, Voltaire đề xuất một hoạt động cho sự vận hành của loài người: “hãy trồng trọt khu vườn của chúng ta,” khu vườn ấy chính là thế giới. Sự khẳng định chủ đề này đảm bảo cho sự thống nhất của những cuộc phiêu lưu khác nhau của Candide, được thuật lại bằng một phong cách sinh động, được tạo nên từ sự chối tai khôi hài và lúc nào cũng thấm đượm sự mỉa mai, trào lộng.

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Câu chuyện vô hình và Đảo tác giả: Hamvas Bela 120.000VNĐ

    1. Về tác phẩm

    Câu chuyện vô hình và Đảo là tập tiểu luận triết học đầu tiên của Hamvas Béla viết vào năm 1943, cũng là tập tiểu luận duy nhất được xuất bản khi ông còn sống. Tác phẩm gồm mười bốn tiểu luận, chia làm hai phần: phần thứ nhất là Câu chuyện vô hình và phần thứ hai mang tên Đảo. Những tiểu luận của Hamvas Béla được đánh giá là “vượt tầm thời đại”, và “không chỉ quyến rũ bởi bởi đề tài ông lựa chọn hết sức li kỳ và mang đậm hình ảnh tượng trưng mà còn bởi văn phong của ông cực kỳ sinh động, nhiều màu sắc, nội dung dày đặc nhiều tầng như mỏ đá quý, mỗi lúc lại mở ra trước mắt người đọc một tầng miêu tả khác lạ”.

    2. Tác giả

    Hamvas Béla (1897-1968) là một trong những nhà triết học, nhà văn hiện đại lớn nhất của Hungary. Ông là người đồng sáng lập ra nhóm Đảo, một liên minh tinh thần lấy từ truyền thống Hy Lạp cổ, nhóm này quy tụ rất đông đảo các nhà văn, nhà triết học có tên tuổi của Hungary như: Szerb Antal, Dobrovits Aladár, Molnár Antal và nhiều người khác. Ông là tác giả của Scientia Sacra,Một trăm cuốn sáchCách mạng trong nghệ thuậtBiên bản bí mật, Đại sảnh các vị tiền bố cổ… Hamvas Béla từng bị tước quyền biên tập, viết và xuất bản nên cho tới tận những năm 70 của thế kỷ, các tác phẩm của ông chủ yếu được lưu truyền dưới dạng đánh máy. Bắt đầu từ những năm 1980, dần dần các tác phẩm này mới được ra mắt công chúng, nhưng vẫn bị kiểm duyệt. Ông đã giành được nhiều giải thưởng cao quý như Giải thưởng Kossuth, Giải thường Di sản Hungary, Giải thưởng Vì Nghệ thuật Hungary.

    3. Điểm nhấn

    “Bí mật của tình yêu là từ hai thành một, bí mật của tình bạn là từ một thành hai. Bởi vậy tình yêu là một tình bạn lật ngược, nghĩa là từ một người luôn luôn có một cái gì đó rò rĩ sang người kia. Tình yêu đôi khi như thể từ một thành hai, cho dù thực ra nó luôn là hai, chỉ tình yêu biến nó thành một. Còn tình bạn đôi khi như thể từ hai mà ra, cho dù nó luôn là một, chỉ tình bạn biến nó thành hai.

    Có một quan hệ khó hiểu giữa tình bạn và các vì tinh tú. Tại sao ngôi sao lại là một người bạn? Tại sao người bạn lại là một ngôi sao? Bởi vì sao rất xa mà vẫn cứ lấp lánh sáng trong ta? Bởi vì bạn là của ta mà vẫn không thể với tới? Bởi vì không gian ta gặp gỡ nhau không thuộc về con người, mà thuộc về vũ trụ? Bởi bạn không đòi hỏi từ ta cũng như ta không đòi hỏi từ bạn bất cứ cái gì?”

    (Trích Tình bạn, Câu chuyện vô hình và Đảo, Hamvas Béla, NXB Tri thức, 2012)
  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học tác giả: 100.000VNĐ

    I. Tác giả:

    Cùng với Feyerabend (mất tháng Hai, 1994) và Popper (mất tháng Chín, 1994), có thể nói Thomas Kuhn là một trong ba khuôn mặt lớn nhất của triết học khoa học cuối thế kỷ XX. Cũng như nhiều triết gia khoa học khác của thế kỷ XX, Kuhn xuất thân là một nhà khoa học. Ông ra đời ngày 18 tháng Bảy năm 1922 ở Cicinnati thuộc bang Ohio, Mỹ, con của Samuel L. Kuhn, một kỹ sư công nghiệp và Minett Strook Kuhn. Kuhn nhận bằng cử nhân vật lý tại Đại học Havard năm 1943. Năm 1946, ông nhận bằng thạc sĩ và năm 1949 nhận bằng tiến sĩ cùng tại ngôi trường này. Theo gợi ý của hiệu trưởng Đại học Havard lúc bấy giờ là James Conant, ông nhận giảng dạy môn Lịch sử Khoa học tại trường từ năm 1948 đến năm 1956. Sau khi rời Havard, Kuhn chuyển về Đại học California ở Berkeley nhận giảng dạy cho hai khoa Triết học và Lịch sử Khoa học. Năm 1961 ông được phong hàm Giáo sư Lịch sử Khoa học, tại đây ông đã viết và cho xuất bản (1962) công trình quan trọng và gây nhiều ảnh hưởng nhất của mình: Cấu trúc các cuộc Cách mạng Khoa học. Năm 1964 ông chuyển sang giảng tại Đại học Princeton với chức danh Giáo sư Triết học và Lịch sử Khoa học trên ghế danh dự của M. Taylor Pyne. Năm 1979, ông chuyển về Học viện Công nghệ Massachusetts và giảng dạy tại đó với chức danh Giáo sư Triết học và được ngồi vào ghế giáo sư danh dự mang tên Laurence S. Rockefeller từ năm 1983 đến năm 1961. Ông tạ thế ngày 17 tháng Sáu năm 1996 ở Cambridge do căn bệnh ung thư phế quản

    II. Tác phẩm:

    Cuốn Cấu trúc các cuộc Cách mạng Khoa học được Kuhn viết và cho xuất bản vào năm 1962, lúc đầu được đăng tải như một mục trong bộ Bách khoa Thư Khoa học Thống nhất [International Encyclopedia of Unified Science] do các nhà duy thực chứng của Câu lạc bộ Wien ấn hành.

    Khác với quan niệm về tính phản nghiệm của Karl Popper, trong cuốn sách của mình, Kuhn muốn chứng minh rằng các lý thuyết khoa học trong lịch sử không hề bị loại bỏ khi chúng tỏ ra sai, mà chỉ đến khi nào chúng được thay thế. Sự thay thế này là một hiện tượng “xã hội” đòi hỏi phải có sự tham gia của cả một cộng đồng các nhà nghiên cứu, cùng thống nhất với nhau về một quy trình xoay quanh việc giải thích một số hiện tượng hoặc một số thí nghiệm nhất định. Cộng đồng này có một cấu trúc đặc thù riêng (các cuộc tọa đàm, hội thảo, các ấn phẩm…). Trong lịch sử, theo ông, không hiếm khi xảy ra trường hợp nhiều trường phái cùng tồn tại trong một mối quan hệ đối lập, và ở một mức độ tương đối, họ không hề biết tới công việc của nhau.

    Dấu ấn của Cấu trúc các cuộc Cách mạng Khoa học cho đến giờ này vẫn chưa hề phai nhạt và tính thời sự của nó vẫn còn nguyên vẹn. Công trình của Kuhn ngày nay vẫn được sử dụng khá triệt để trong khoa học xã hội, chẳng hạn trong những tranh cãi về Quan hệ Quốc tế của các trường phái hậu thực chứng. Khái niệm “mẫu hình” của ông dường như là một khái niệm cơ bản của môn Xã hội học về Tri thức Khoa học. Có thể nói không ngoa rằng hiếm có sinh viên thuộc các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn nào không nghe nói đến Thomas Kuhn và lý thuyết về “mẫu hình” của ông. Cho đến cuối thế kỷ XX, cuốn Cấu trúc các cuộc Cách mạng Khoa học có lẽ là cuốn sách triết học bán chạy nhất ở châu Âu và Mỹ, được dịch ra hơn 20 thứ tiếng và số lượng phát hành bằng tiếng Anh lên đến hàng triệu bản. Cho đến nay, theo thống kê của một số tạp chí, đây là một trong những cuốn sách được các tác phẩm triết học trích dẫn nhiều nhất. Sự ra đời của nó vào năm 1962 đã đánh dấu sự cáo chung của những tư tưởng triết học khoa học thịnh hành từ những năm 1930 cho tới thời điểm ấy. Nó đồng thời đánh dấu sự mở màn của một tư tưởng triết học mới, ít thiên về phân tích logic và phân tích khái niệm mà chú trọng thích đáng hơn đến lịch sử và xã hội học khoa học.

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Cháu ông Rameau tác giả: 55.000VNĐ

    1. Tác giả

    Denis Diderot (1713 – 1784) là kiến trúc sư­ của công trình Bách khoa thư­ (Encyclopédie) đồ sộ, nhà văn có nhiều đóng góp độc đáo, nhà triết học duy vật, sôi nổi “lòng yêu chân lý và chính nghĩa”[1], nhà phê bình nghệ thuật sắc sảo. Ông là “nhà thơ lớn, nhà họa sĩ lớn, nhà điêu khắc lớn, nhà nhạc sĩ lớn… tuy ch­a từng bao giờ làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, nặn tượng”[2].

    2. Tác phẩm

    Kiệt tác Cháu ông Rameau, sáng tác khoảng năm 1761, lư­u hành một vài bản ở dạng chép tay trong số bạn bè quen biết. Một bản theo Grimm về Đức, lọt vào tay Gœthe (1749 – 1832), đ­ược ông dịch ra tiếng Đức. Mãi đến 1823, Cháu ông Rameau mới đư­ợc dịch lại từ bản tiếng Đức để xuất bản ở Paris, và tới gần cuối thế kỷ XIX, năm 1891, người ta mới tìm thấy nguyên bản của nó!

    Cháu ông Rameau là một thể nghiệm táo bạo của Diderot tiếp tục tìm tòi nội dung và hình thức mới của tiểu thuyết. Đó là “kiệt tác duy nhất” theo chữ dùng của Marx (1818 – 1883), và là “kiệt tác về mặt biện chứng” theo sự đánh giá của Engels (1820 – 1895).

    Cháu ông Rameau là một ngư­ời có thật, tên là Jean-François Rameau, cháu gọi nhạc sĩ nổi tiếng Jean-Philippe Rameau (1683 – 1764) là bác ruột. J-F. Rameau kém Diderot vài tuổi. Hắn vốn là một gã đê tiện, sống cuộc đời ăn bám bằng cách nịnh hót hoặc làm trò hề mua vui cho những kẻ có tiền bạc và đến năm 1771 thì chết trong một nhà tế bần dành cho những kẻ vô gia c­ư.

    Tiểu thuyết viết theo hình thức đối thoại giữa “Tôi” và “Hắn” trong tiệm giải khát La Régence ở gần Hoàng-Cung, vào một buổi chiều, bên cạnh những ng­ười đang chơi cờ. Nếu như­ đối thoại choán gần hết từ đầu đến cuối trong ý kiến ngư­ợc đời về diễn viên, chỉ mãi đến khi gần kết thúc mới xuất hiện vai trò của ng­ười kể chuyện, thì ở Cháu ông Rameau, ngư­ời kể chuyện xuất hiện nhiều hơn. Tác phẩm mở đầu bằng lời của ngư­ời kể chuyện: “Dù đẹp trời hay thời tiết xấu, tôi có thói quen cứ đến năm giờ chiều đi dạo ở Hoàng-Cung. Thiên hạ luôn thấy tôi chỉ ngồi một mình, mơ mộng trên chiếc ghế dài ở Argenson [3]. Tôi trò chuyện với bản thân tôi về chính trị, về tình yêu, về thị hiếu và về triết học. Tôi mặc cho đầu óc tôi tha hồ bông lông…” Tiếp đó câu chuyện giữa “Tôi” và “Hắn” hơn hai chục lần bị ngắt quãng bởi lời của ng­ười kể chuyện, đó th­ường là những đoạn ngắn với lối văn tự sự, kể chuyện ở ngôi thứ ba.
    Rameau không đơn thuần là sản phẩm thụ động của xã hội. Hắn còn vư­ợt lên trên xã hội, quan sát nó bằng con mắt có ý thức và trí thông minh sẵn có. Hắn mò mẫm tìm ra nguyên nhân của những bất công trong xã hội: “Sự sắp đặt quỷ quái gì mà có những kẻ ngốn đầy ứ đủ thứ, trong khi những ngư­ời khác có cái dạ dày quấy nhiễu như­ họ, có cái đói tái phát nh­ư họ, mà lại chẳng có gì để đút vào miệng”. Hắn hiểu rằng “trong thiên nhiên có các loài vật xâu xé nhau, trong xã hội có các giai cấp xâu xé nhau”. Như­ng Rameau lại rút ra kết luận muốn trở thành “một tên kẻ c­ướp sung s­ướng giữa những tên kẻ cư­ớp giàu có”, vì hắn lý luận rằng “ng­ười ta phỉ nhổ một kẻ lư­u manh tầm thư­ờng, nhưng không thể không cảm phục một tên đại gian đại ác”.
    Rameau chính là hình ảnh lớp ngư­ời đang vật lộn trong xã hội lúc bấy giờ để tự khẳng định, nh­ưng cuộc đấu tranh của họ không vư­ợt ra ngoài khuôn khổ của chủ nghĩa cá nhân do đó rơi vào bế tắc.

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Con người trong thế giới tinh thần tác giả: 110.000VNĐ

    1) Tác giả

    N. A. Berdyaev là triết gia Nga nổi tiếng của thế kỉ XX. Ông sinh năm 1874 trong một gia đình quý tộc Nga ở Kiev. Năm 1894 ông vào học trường sĩ quan quân đội, nhưng cảm thấy môi trường không phù hợp nên đã chuyển sang học trường Đại học Kiev. Ông tham gia hoạt động trong phong trào sinh viên, và năm 1898 bị bắt giam một tháng. Sau đó ông bị đi đày ở miền Bắc (1901-1902).

    Thời gian 1905-1906 ông cùng với S. N. Bulgakov thành lập tạp chí Những vấn đề của cuộc sống nhằm tập hợp những trào lưu mới trong lĩnh vực tư tưởng-văn hóa.

    Năm 1920 ông được khoa Lịch sử-Ngữ văn trường Đại học Moscow bầu làm giáo sư.

    Năm 1922 ông cùng nhiều trí thức và những người hoạt động văn hóa nổi tiếng khác bị trục xuất khỏi nước Nga Xô viết. Sau khi bị trục xuất ông đã ở Đức rồi định cư tại Pháp.

    Ông cùng với S. L. Frank và S. N. Bulgakov là những người đặt cơ sở cho sự phục hưng nền triết học tôn giáo Nga. Ông đã xây dựng triết học về bản diện cá nhân và tự do trong tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh. N. A. Berdyaev được xem là người có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Pháp. Ông mất ngay tại bàn làm việc ở ngoại ô Paris năm 1948.

    2) Tác phẩm

    … N. A. Berdyaev cho rằng không thể có bản diện cá nhân nếu không tồn tại cái đứng cao hơn nó, nếu không có cái thế giới trên núi để bản diện cá nhân leo lên. Hiện hữu của bản diện cá nhân đòi hỏi phải có hiện hữu của các giá trị siêu cá biệt. Từ nhân học ông đi đến hiện hữu của Thượng Đế. Nhưng N. A. Berdyaev bác bỏ quan niệm Thượng Đế như sức mạnh thống trị thế gian và sử dụng con người vốn là tạo vật của mình như phương tiện để tự vinh danh mình. Ông quan niệm một Thượng Đế-bản diện cá nhân mong mỏi con người-bản diện cá nhân đáp lại lời hiệu triệu của Người và Người có thể giao lưu tình yêu với nó. Thượng Đế bộc lộ bản thân mình trong thế giới tinh thần của con người, nhưng Thượng Đế không cai quản thế gian như một quân vương. N. A. Berdyaev tự xem mình là tín đồ Kitô giáo, nhưng không ràng buộc bản thân với bất cứ giáo hội nào. Ông cho rằng cuộc sống tôn giáo bao giờ cũng là cuộc sống cá nhân riêng tư trong thâm nhập vào chiều sâu của nó. Ông viết rằng từ thời thơ ấu ông đã xác định kiểu tôn giáo của ông là tinh thần nội tâm và tự do.

    Berdyaev cho rằng có ba trạng thái của con người, ba cấu trúc của ý thức có thể hàm nghĩa như “ông chủ”, “kẻ nô lệ” và “người tự do”. Ông chủ và kẻ nô lệ có tính tương liên, chúng không thể hiện hữu người này không có người kia. Còn người tự do hiện hữu tự thân nó, nó có trong bản thân mình phẩm chất riêng của nó mà không có tính tương liên với cái đối lập với nó. Ông chủ là ý thức hiện hữu cho bản thân mình, nhưng là ý thức hiện hữu cho bản thân mình thông qua kẻ khác, thông qua kẻ nô lệ. Nếu như ý thức của ông chủ là ý thức hiện hữu của kẻ khác cho bản thân mình, thì ý thức của nô lệ là ý thức hiện hữu của bản thân mình cho kẻ khác. Còn ý thức của người tự do là ý thức hiện hữu của mỗi người cho bản thân mình, nhưng tự do bước ra khỏi bản thân mình đi đến với kẻ khác và đi đến với tất cả mọi người. Giới hạn tột cùng của tình trạng nô lệ là tình trạng không có ý thức của nó. Thế giới của tình trạng nô lệ là thế giới tinh thần xa lạ với bản thân mình. Ngoại hiện hóa là nguồn gốc của tình trạng nô lệ. Tự do là nội hiện hóa.

    Berdyaev cho rằng thống trị là mặt trái của tình trạng nô lệ. Con người không được trở thành ông chủ, mà phải là người tự do. Plato đã nhận xét rằng chính bạo chúa cũng là kẻ nô lệ. Nô dịch kẻ khác cũng là nô dịch bản thân mình. Ý chí vươn tới hùng mạnh bao giờ cũng là ý chí nô lệ. César, vị anh hùng của chủ nghĩa đế quốc, là kẻ nô lệ, nô lệ của thế gian, nô lệ của ý chí vươn tới hùng mạnh, nô lệ của khối đông người mà thiếu khối đông người ấy thì ông ta không thể thực hiện được ý chí vươn tới hùng mạnh. Ông chủ chỉ biết đến chiều cao mà những kẻ nô lệ nâng ông ta lên, César chỉ biết đến chiều cao mà đám quần chúng nâng ông ta lên. Thế nhưng những kẻ nô lệ, đám quần chúng, cũng quăng xuống tất cả các ông chủ, tất cả các César. Berdyaev nhấn mạnh: “Tự do là tự do không phải chỉ thoát khỏi các ông chủ, mà còn thoát khỏi các nô lệ nữa. Ông chủ bị hạn định từ bên ngoài, ông chủ không phải là bản diện cá nhân, cũng như kẻ nô lệ không phải là bản diện cá nhân, chỉ có người tự do mới là bản diện cá nhân, dẫu cho toàn bộ thế gian đều muốn nô dịch anh ta”….

  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Faust tác giả: 140.000VNĐ
    Trong đêm tối nghìn năm Trung cổ, nhân loại dần tỉnh giấc, dấn bước kiếm tìm giá trị bản thân và nhận thức thế giới. Trên chặng đường đó, đã sinh ra Faust – một nhân vật có thật, được huyền thoại hóa nhiều vào bậc nhất lịch sử thế giới, cả trong văn học dân gian lẫn văn học bác học, với đỉnh cao của mọi đỉnh cao là Faust của Johann Wolfgang von Goethe.
    Là quân bài trong ván bài cá cược giữa Đức Chúa Trời và Quỷ, khi già nua, tinh thần kiệt quệ, Faust đã lấy máu mình ký kết một bản hợp đồng thật hoang đường – bán linh hồn cho Quỷ. Rồi Quỷ làm bùa phép, trẻ hóa vị học giả thông kim bác cổ. Faust, trong khát vọng cháy bỏng muốn khám phá bí mật của tự nhiên và tận hưởng lạc thú thế gian, diễu qua sân khấu cuộc đời với nhiều diện mạo. Nhưng dù là ai, kẻ ăn chơi phóng đãng, hay bậc anh hùng chinh phục thế giới, trong thời đại của phong trào ‘Bão táp và Xung kích’, Faust của Goethe – vẫn luôn là người hành động, không ngừng vươn lên, trưởng thành qua mọi bi kịch để nhận ra ý nghĩa của hiện hữu, vĩnh viễn là tượng đài trường tồn uy nghi cho tinh thần của nhân loại cách mạng và hiện đại.
    “Faust là sự tinh túy trong sáng nhất, sâu sắc nhất của thời đại, được tạo ra từ những gì mà toàn bộ thời đại chứa đựng và cả những gì thời gian sẽ còn chứa đựng.”
    – Friedrich Wilhelm Joseph Schelling, triết gia Đức
  • img-book

    Liên hệ số điện thoại 0971 365 422 hoặc 01296 663 653 để đặt sách


    Hoàn cảnh hậu hiện đại tác giả: 45.000VNĐ

    1. Giới thiệu sách “Hoàn cảnh hậu hiện đại”

    Với “Hoàn cảnh hậu hiện đại”, Layotard chủ trương sự cần thiết của một quan niệm công bằng về sự truyền thông, trong đó không chỉ cho phép tồn tại mà còn bảo vệ sự đa dạng (những dị biệt và bất-đồng thuận), có thể liên tục phá vỡ sự đồng thuận tạm thời.

    “Quyển sách mang tính chất của một cương lĩnh. Nó mô tả sự biến chuyển từ Hiện đại sang Hậu-hiện đại: về phương diện xã hội học, những biến đổi nhanh chóng của xã hội tất yếu dẫn đến sự khủng hoảng về “tâm trạng” và hình thành nên một tâm thức mới: tâm thức hậu hiện đại; về phương diện triết học, các hình thức “hợp thức hóa” cho khoa học cũng lâm vào tình trạng bế tắc, đặt ta vào một hoàn cảnh mới: hoàn cảnh hậu hiện đại, cần được giải quyết về mặt khoa học luận và triết học”.

    “Đó là một nỗ lực mới nhằm thức tỉnh trước những nguy cơ và cám dỗ để tiếp tục suy tưởng và kiến tạo những hình thức mới, phù hợp hơn để “cứu vãn” và bảo vệ những giá trị đích thực của Hiện đại: sự tự do và sự khai phóng của cá nhân.”

     

    2. Mục lục

    Lyotard với tâm thức và hoàn cảnh hậu hiện đại

    Dẫn nhập

    1. Trường nghiên cứu: Tri thức trong các xã hội tin học hóa

    2. Vấn đề: Sự hợp thức hóa

    3. Phương pháp: Các trò chơi ngôn ngữ

    4. Bản tính của mối liên kết xã hội: Giải pháp hiện đại

    5. Bản tính của mối liên kết xã hội: Viễn tượng hậu hiện đại

    6. Dụng học của tri thức tự sự

    7. Dụng học của tri thức khoa học

    8. Chức năng tự sự và sự hợp thức hóa tri thức

    9. Các đại tự sự để hợp thức hóa tri thức

    10. Sự giải-hợp thức hóa

    11. Sự nghiên cứu và sự hợp thức của nó thông qua tính hiệu quả thực hiện

    12. Giáo dục và sự hợp thức của nó thông qua tính hiệu quả thực hiện

    13. Khoa học hậu hiện đại như sự tìm kiếm những cái bất ổn định

    14. Hợp thức hóa thông qua sự nghịch biện

    Danh mục tác phẩm của J. F. Lyotard theo thứ tự thời gian

  • Krishnamurti – Cuộc Đời & Tư Tưởng (Trọn Bộ 3 Tập) tác giả: 210.000VNĐ

    Krishnamurti – cuộc đời và tư tưởng là bộ sách lớn và công phu do dịch giả Nguyễn Ước chuyển ngữ.

    Bộ sách gồm 3 phần (3 cuốn):

    Phần I: “Krishnamurti tinh yếu” bao gồm những bài diễn thuyết và thảo luận quan trọng nhất cuộc đời Krishnamurti, bao gồm các đề tài: đạo học và tôn giáo, tu trì và thế tục, khổ não và hạnh phúc, nô lệ và giải thoát, thức ngộ và cứu độ, cá nhân và thế giới. Cuốn sách được chọn lọc từ những cuốn nổi tiếng như “Tự do đầu tiên và cuối cùng”, “Đường vào hiện sinh”, “Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống”, “Giáp mặt cuộc đời”, “Giải thoát tri kiến”, “Krishnamurti với chính mình”, các phần nhật ký của ông được tập hợp lại dưới tựa đề “Hãy suy nghĩ về những điều này” cùng nhiều bài phát biểu của ông tại thủ đô Wasington…

    Phần II: “Đời không tâm điểm” nói về phần đầu cuộc đời Krishnamurti, từ lúc ông chào đời (1895) đến năm 1977 và gồm cả cái chết bi tráng của của bà Indira Gandhi – thủ tướng Ấn Độ – năm 1983. Và phần III: “Dòng sông thanh tẩy” tóm kết lời giảng theo từng chủ đề với cuộc đời Krishnamurti từ 1978 cho đến ông qua đời. “Hai phần này do bà Pupul Jayakar – một nhà văn rất giỏi về ngôn ngữ cũng như đã từng tri kiến, gắn bó với đời sống, những chuyển đổi tinh thần của Krishnamurti trong suốt 40 năm viết. Và để làm phong phú thêm bộ sách, giúp bạn đọc hiểu thêm về một sự kiện khiến dư luận xôn xao từ suốt những năm đầu thập niên của thế kỷ XX cho đến ngày nay, đó là Hiện tượng Krishnamurti, đoạn cuối của phần III còn đăng tải một loạt những cuộc trò chuyện của các nhân vật cùng thời như A. Govinda, D. Bohm, B. Griffiths, E. Schallert, Wapola Rahula, Renée Weber, Samdhong Rinpoche, Lý Tiểu Long… và một số cuộc phỏng vấn những người thân cận khi đồng tình, khi phản bác với Krishnamurti.”

    Trong cuộc hành trình của nhân loại nhằm khám phá cách thế cá nhân tự giải thoát khỏi khổ não để sống hạnh phúc, thỉnh thoảng xuất hiện những người mà cuộc đời và tư tưởng gây nhiều tranh luận; thời gian tranh luận càng lâu dài thì phạm vi ảnh hưởng càng sâu rộng và đó là điều khó tránh khỏi. Việc tìm hiểu thân thế và tư duy của những người ấy giúp độc giả thêm dồi dào kiến thức, định tĩnh tu tập hoặc xác quyết hơn quan điểm tương đồng hay dị biệt của mình. Krishnamurti là một trong những người như thế. Xuất từ huyền thoại và hồi tưởng, câu chuyện cuộc đời ông như một giấc mộng dài, nói hoài không hết.

There are no products